Thoáng Qua Một Kiếp Người
Bất ngờ tấm ảnh tuột ra khỏi quyển sách, nhẹ nhàng rơi xuống đất. Khơi dậy đâu đây một cảm xúc trầm buồn. Ảnh chụp đã lâu, nước hình đang ngã sang màu vàng ố. Tám năm trôi qua chứ ít gì. Chị và tôi chụp nó nhân ngày tôi bước sang một khúc ngoặt mới của cuộc đời. Nhìn bức ảnh, phảng phất trong tôi chút niềm vui ngày ấy, nhưng sao lòng tôi bỗng chùng xuống. Trong luật sống của đời tu, mọi người đều phải trải qua từng cấp bậc của các giai đoạn huấn luyện. Mỗi giai đoạn đều có thời hạn và nơi chốn ấn định. Nên dù sống một thời gian khá dài trong đời tu, có người chưa bao giờ trực tiếp sống chung. Chị và tôi cũng không sống ngoài những quy chế đó. Khi tôi lên trụ sở thì tới giai đoạn chị sống môi trường tông đồ. Cứ thế chị và tôi không cùng thở chung một bầu khí. Nhưng khoảng cách thời gian và không gian không làm cho tình bạn chúng tôi hao mòn, mà tăng dần theo ngày tháng. Chúng tôi cùng đi một lý tưởng, và trong hướng đi đó chúng tôi biết sự nâng đỡ tinh thần cho nhau là cần thiết. Khi bước chân vào tu viện tôi gặp chị. Chị nổi bật giữa đám đông thiên thần áo trắng bởi nét môi khuôn mặt của chị luôn tỏa ra tính khí vui tươi và phóng khoáng, cộng thêm ánh mắt sâu đen tinh nghịch. Dù khi chị không cười, người khác vẫn cảm thấy thích nói chuyện và gần gũi với chị. Có chị là có tiếng nói cười. Lần đầu gặp chị, tôi biết mình khác biệt nhau lắm. Từ dáng vẻ bên ngoài đến tính khí bên trong. Tôi thì nhẹ nhàng, trầm tính, và ngại đám đông. Có một điều, chị và tôi đều thích nghệ thuật, thích tất cả những gì đẹp nên mau chóng trở thành tri kỷ. Một sự hòa hợp trong khác biệt ít có ai ngờ. Vì sự khác biệt nên chúng tôi thường hay thích tranh luận. Tranh luận để tìm chân lý. Có lần sau một cuộc tranh cãi "kịch liệt" chị tinh nghịch nói với tôi, "hình như mình mà không "cãi nhau" thì không có chuyện gì để nói." Giữa những cái khác biệt li ti, chúng tôi giống nhau trong suy tư và cảm quan về cuộc sống. Qua lần gặp gỡ chị, tôi hiểu ngay sự xếp đặt tinh vi của Chúa dành cho chúng tôi. Trước là để bổ túc làm quân bình bản tính đôi bên. Sau là để nâng đỡ và đồng hành với nhau trong đời sống tận hiến đầy thách đố này.
Vào một buổi chiều, khi những tia sáng mặt trời chiếu xuyên qua lớp mây dầy đầy sắc màu, tôi cuốc bộ ra bờ hồ sau nhà. Ðể giải hòa với bộ óc đang gây cấn với bài luận văn khắc khe, tôi ngồi hát nghêu ngao những bài thánh ca quen thuộc. Miên man hòa điệu với tiếng sáo gió vi vu, tiếng đàn rì rào của hàng dương liễu tôi có cảm giác thế giới này chỉ có Chúa với ta. Thế mà, một cảm giác là lạ khiến tôi quay đầu lại. Tiếng gió thổi tà áo của một bóng trắng kêu phần phật làm tôi...im bặt. Bất ngờ tôi quay lại hỏi chị.
-"Chị đến tự bao giờ sao em không hay biết?"
Cũng cái nụ cười muôn thuở đó, chị trả lời:
- "Em mới đến thôi, khoảng chừng...mười phút.
- "Vậy hả! sao không gọi em. Thế chị đã...
- "Em đã nghe hết rồi!" Chị ngắt lời tôi, rồi phá lên cười. Nếu có phép mầu, tôi sẽ biến thành nước, tan vào lòng đất ngay thôi. Nhưng trễ rồi, cái mắc cỡ đến đông cứng người đã làm tôi ngồi chịu trận. Chị hạ giọng pha chút trêu ngươi.
- "Xin lỗi, em đã cố tình nghe lén chị hát." Lại còn giở giọng điệu ăn năn thống hối. Dám hiên ngang nhận tội, mà lại là tội cố tình cơ chứ. Ai chịu nổi. Nhưng biết sao giờ, sự thẳng thắn, chân thành đó làm sao tôi có thể không bỏ qua. Chúng tôi ngồi nói chuyện về những ưu tư, hoài bão trong cuộc sống. Chị thích xuất hiện trong đám đông, nhất là những khi chị em từ nơi xa tụ họp về. Nếu chị có vắng mặt đi nữa, thì trong những mẫu truyện vui vô tình tên chị cũng được nhắc đến. Tôi thấy vui lây trong lòng. Có lần tôi nói với chị, nhìn vẻ bên ngoài ít ai nghĩ rằng chị gặp khó khăn trong cuộc sống. Chị nhìn tôi, niềm vui dấy nhẹ trong ánh mắt. Cuộc sống tự nó đã đủ làm cho chị em nặng gánh nên chị không đành gây thêm gánh nặng cho người khác. Chị muốn trao ban niềm vui bao nhiêu có thể. Bản tính phóng khoáng được Chúa phú bẩm cho chị đã làm cho đời sống cộng đoàn thêm phấn khởi nhẹ nhàng. Ðó là một ân huệ Chúa dành cho cộng đoàn và cũng là một hồng ân cho bản thân chị. Trong cuộc sống mấy ai không phải trải qua những giây phút tự thâm tâm đôi lúc cảm thấy cô độc, lạc lõng khi đối diện với chính mình. Nhưng đối với người được coi là "niềm vui của mọi người" thì cũng dễ dàng âm thầm ôm ấp nỗi niềm riêng. Có lần chị đến với tôi ngậm ngùi kể lại vết thương lòng. "Hình như em chỉ là một trò cười cho mọi người mà thôi!" Tô i hơi bất ngờ khi nghe được súc cảm ít ai đoán biết chị có cảm nhận như thế. Tôi chỉ biết dùng ánh mắt bày tỏ nỗi cảm thông trong im lặng. Nhưng tôi càng hiểu hơn, trong khuôn khổ lạc quan có giới hạn, chị cũng cần niềm cảm thông và nâng đỡ. Ðể sống hài hòa trong đời sống cộng đoàn, đòi hỏi phải có một nghệ thuật sống. Trong đó đức tính nhạy cảm và tế nhị chiếm phần ưu thế. Tế nhị để duy trì sự nhịp nhàng với tình liên đới trong giới hạn hiểu biết về người khác. Chị luôn có cái nhìn đẹp về cuộc sống và tình người. Chị thường thích thú kể lại những biến cố tươi vui được cất cẩn thận trong bộ nhớ. Ðiều này làm cho chị say mê về cuộc sống hơn. Chị có nhiều sở thích riêng biệt mà mỗi lần chia sẻ, tôi có thể nhìn thấy tia sáng của niềm vui và tự hào trong ánh mắt rạng rỡ của chị. Hơi mát của niềm vui đó quyện vào không trung và nhẹ nhàng lan vào hồn tôi. Nó nhắc nhở tôi niềm vui nằm trong tầm tay của mình. Niềm vui căn bản của người được làm con Thiên Chúa. Thế mà trong cuộc sống, đôi lần vô tình tôi để ngoại tại làm chủ mình. Ðã hơn một lần tôi cảm nhận niềm vui đó trong ánh mắt rạng rỡ và giọng nói đầy xác tín của chị.
- "Chị có biết không! Em được nhiều người thương lắm!
Ái chà! tôi mĩm cười, lắc đầu, ...cảm phục. Chưa thấy ai dám tự hào cho mình
được nhiều người thương. Thế mà chị dám nói và nói ít nhất hơn một lần. Trong thoáng cảm kích pha lẫn thích thú với con người chân thật bộc phát này, tôi ghẹo chị.
- "Chúa ơi! từng tuổi này, em chưa thấy ai "kiêu ngạo" như chị!"
Chị cười thích chí, mở to đôi mắt sâu đen, hỏi tôi:
- "Chị không tin em sao?"
- "Ðể em xét lại xem sao," tôi chọc chị. Tôi tin! Chắc chắn là thế. Dẫu chị không nói tôi cũng có nhận xét như vậy. Mặc cho cuộc sống có trăm nghìn mối lo, nhưng sự bình an sẽ tìm đến những ai biết và cảm nhận mình được thương yêu. Chính chị đã tìm thấy. Không những tình thương của những người xung quanh, nhất là tình thương của Thiên Chúa, Người chị trọn đời gắn bó. Chị thẳng thắn, yêu thích công bình và liêm chính. Bất cứ xem ra vi phạm điều đó chị không ngần ngại lên tiếng. Tôi khâm phục chị vì tôi cũng có những cái nhìn như thế, nhưng chưa dám lên tiếng vì không đủ can đảm để chịu "thương tích." Ðối với tôi, chị là mẫu người bạn tốt. Chị dám nói sự thật để giúp người khác thăng tiến. Cùng ngày này năm trước, tôi trở lại khu vườn xưa để thăm loài hoa tôi yêu quý, loài hoa đã dạy tôi vui với đời và trọng quý tình người. Nhưng nụ hoa ấy không còn nữa, nó đã được bứng đi đem trồng trong một mảnh vườn khác. Một năm trôi qua, kể từ hôm ấy, chị vĩnh viễn đi vào cõi thiên thu để lại trong tôi vạn nỗi nhớ nghìn niềm thương. Chị đã bước vào đời và ra đi bằng những bước chân quá vội vàng. Kể từ ngày tiếp súc với chị, tôi hiểu rõ hơn thế nào là sống lạc quan, và trọng tình ân nghĩa. Và, cũng từ ngày chị mất đi, tôi thấm thía hơn thế nào là mong manh một kiếp người. Nghĩ lại tôi thấy rùng mình, sứ mạng Chúa trao, tôi chưa chu toàn. Khi chứng kiến số tuổi thanh xuân rực sáng của chị nằm yên bất động trong chiếc quan tài buồn, tôi không biết mình nên vui hay buồn; vui cho chị khởi đầu một cuộc sống mới, hay buồn cho tôi, người ở lại đầy ắp nỗi niềm cảm súc của một cõi lòng. Ngồi đối diện với thi hài của chị, tôi nhớ lại cảnh tượng chị cố chiến đấu với hơi thở yếu ớt khó khăn trong những giờ khắc còn lại của cuộc đời mình. Trong tư tưởng tôi thầm thĩ với chị: "... Chị ơi, không làm sao em quên được câu trả lời của chị, khi em nói "rồi một ngày thật gần, khi em nắm tay chị thì bàn tay ấy sẽ không nắm lại tay em." Chị nhìn em cười buồn trả lời, "lúc em không nắm lại tay chị là lúc em muốn nắm tay chị hơn bao giờ hết." Lúc ấy, tôi xúc động nhìn ra cửa sổ. Vầng trăng sáng vằng vặt. Từng tia ánh sáng mỏng chiếu xuyên qua mành cửa như ngậm ngùi ray rức. Ánh mắt xa xăm, tôi như níu kéo một vật quý sắp mất. Thấy tôi đăm chiêu chị hỏi. "Chị đang nghĩ gì đấy". Tôi trả lời, "Em đang cầu nguyện, cầu xin một phép lạ dẫu biết rằng sẽ không xảy ra." Tôi biết phép lạ đó sẽ không bao giờ trở thành hiện thực, vì tôi đang cầu xin một điều vị kỷ cho riêng mình. Như Matha, tôi kỳ kèo với Chúa, "Nếu Thầy ở đây thì bạn con không chết." Nhưng một tiếng nói khác vọng lên: "con tin Thầy là sự sống lại và là sự sống, bất cứ ai tin sẽ không phải chết muôn đời" (Gn21:21-27), thì có lý gì con xin thay đổi ý định của Người. Chương trình Chúa thì cố định và tuyệt hảo. Cái tuyệt hảo mang lại lợi ích đời đời cho con cái Người. Ðiều tôi xin chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng Chúa thì nhắm đến ơn cứu độ muôn đời hằng cho con người. Tôi nào biết, chính cuộc hành trình ngắn ngủi nơi dương thế của chị đã là một phép lạ rồi. Gió rít từng cơn, dù tiết đông đã qua nhưng tôi vẫn cảm thấy rùng mình. Cái cảm giác âm u, tĩnh lặng của đất thánh cho tôi cảm giác về một thế giới linh thiêng. Tôi mang theo một nắm nụ hoa trắng thơm đến thăm chị. Nhìn nấm mộ cỏ đã mọc xanh đều và hàng tên chị tỏ tường trên bia đá nhưng tôi như không muốn tin trực giác của mình. Tôi thích tặng chị nụ hoa, vì tuổi chị chưa quá đôi mươi. Chị sẽ mãi mãi trẻ trung bên Chúa, Người mà chị đã trọn đời hiến dâng cuộc đời để đáp lại lời đầy yêu thương của Người. Chị đã từng nói với tôi, chị có thể chịu thua các chị em về mọi khía cạnh nhưng tình yêu đối với Chúa thì không. Nên tôi càng tin hơn Chúa sẽ nói với chị dù sống hay chết "Cha vẫn ở bên con." Bùi ngùi nhìn lại tấm ảnh. Giờ đây, chị và tôi nghìn trùng âm dương cách trở. Tôi không biết chị đang trong hoàn cảnh nào: giai đoạn thanh luyện đau thương hay được diện kiến nhan thánh Chúa? Dẫu thế nào, tôi càng không thể hình dung cảm nhận của chị ra sao, vì đức công bình và lòng thương xót vô biên của Chúa vượt xa trí hiểu loài người. Sống và chết rất gần mà cũng mịt mù xa xăm. Nó như một thế giới huyền bí có thật. Tôi không dám phân tích dù để duy trì tình liên đới với chị hay để tự an ủi lòng mình. Nhưng có một điều tôi tâm niệm rằng ơn cứu độ sẽ lan tràn đến những ai biết mở lòng cộng tác với Thiên Chúa. Cố nhiên không phải vì công ích riêng con người mà do lòng nhân từ của Chúa. Sự mở lòng đó là để chứng tỏ con người thành khẩn khao khát đi tìm ơn cứu độ. Thiên Chúa mới đủ tư cách cứu rỗi loài người vì ơn cứu độ quá tuyệt vời vĩ đại. Chúa đã gọi chị ra khỏi thế gian, Ngài trong sáng, vô cùng thánh thiện. Không một bụi nhơ nào dù nhỏ nhoi cách mấy cũng có thể gần Ngài. Nên tôi không thể vì quý mến tình bạn mà tự dối lòng mình: tôi biết chị cần lời cầu nguyện hơn bao giờ hết. Tôi luôn cầu nguyện cho chị và cầu nguyện cho những người thân yêu của chị. Sr. Hoàng Anh, OP
Webmaster:daohb@ev1.net |