Hàng năm cứ vào tháng
Tám, mọi người từ khắp nơi
tuốn về hành hương tại Thánh
Địa Lavang để tôn vinh Đức
Mẹ, cũng như để xin mọi ơn
lành cho bản thân, gia đình, bạn
bè và người thân. Năm ấy
khách hành hương đến Lavang đông
lắm. Hòa vào với dòng người
đi hành hương ấy có một người
cũng đến Lavang. Nhưng anh ta đến
không phải để tuyên xưng đức
tin, hay xin ơn gì cả, mà là để
tranh thủ xem có kiếm chác gì từ
những dòng người kia...
Anh ta lần đến bên
những người có vẻ giầu có
để quan sát, và dự tính tranh
thủ lúc người ta đọc kinh, hay
lơ đễnh là nâng đi giỏ sách
hay tiền bạc của họ. Anh lẩm bẩm
chắc dịp này sẽ kiếm được
một món khá lớn vì những người
anh ta để ý "thăm hỏi" đều
có vẻ khấm khá và đang mải
mê đọc kinh, hay trò chuyện, không
để ý gì đến tư trang hành
lý của mình cả. Nhưng lạ thay,
cứ mỗi lần anh định giở tay
nghề thành thạo của mình ra hành
động, thì dường như có một
bàn tay vô hình nào đó ngăn
lại, không cho anh thực hiện ý định
của mình. Anh lặp đi lặp lại
bốn, năm lần tay nghề của mình
nhưng đều không thành công. Anh
có cảm giác run run lo sợ như chưa
bao giờ là kẻ chôm chỉa cả.
Có nhiều vụ khó khăn hơn nhiều
mà anh cuỗm nhẹ nhàng, nhưng lần
này dễ dàng như vậy mà anh lại
không thể thực hiện được...
Chiều xuống dần anh vẫn
chưa làm ăn được vụ nào
cả. Anh lững thững ra về và dự
tính hôm sau trở lại. Ngày hôm
sau cũng lặp lại như ngày hôm
trước; anh chẳng kiếm chác được
gì cả. Chán nản, anh ra đứng
dưới tàn cây trước tượng
Đức Mẹ nhìn mọi người cầu
nguyện. Với tâm sự buồn và thất
vọng, anh cũng lẩm bẩm: "Mẹ
ơi, tại sao vậy?" Đứng một
lúc anh lững thững bước ra về.
Vừa đến cổng thì đột nhiên
có một người đập nhẹ vào
lưng anh, anh quay lại thì thấy một
cụ già, một tay chống nạnh, tay kia
cầm một giỏ đầy lá vàng
lắp bắp mời anh mua lá cụ hái
ngay chỗ Đức Mẹ hiện ra trước
đây. Anh lắc đầu không mua. Nhưng
ông lão năn nỉ:
"cậu làm phước giùm tôi đi,
tôi chỉ cần 2000 đồng thôi để
mua chút gạo nấu bữa cơm chiều."
Tự dưng anh tò mò:
"Con cụ đâu mà cụ phải đi
khiếm tiền khi cụ yếu như thế
này?"
"Tôi không có con, chỉ có hai vợ
chồng già nương tựa vào nhau thôi."
Trong anh ta tự dưng bừng
lên thứ tình cảm mà trước
đây anh chưa hề có bao giờ. Đó
là sự cảm thông và thương
xót. Như một cái máy, anh móc 5000
đồng ra đưa cho cụ và vội
vã đi ngay như chạy trốn, chỉ
kịp nói một câu: "Cụ cầm
lấy, cháu biếu cụ." Ông lão
với theo nói câu cám ơn.
Từ hôm đó anh cảm
thấy trong mình có gì khác thường.
Anh muốn hành nghề chuyên môn nhưng
không thể nào thành thục như trước.
Một người bạn rủ anh đi làm
phụ hồ cho một công trình xây
cất đang rất cần người. Lúc
đầu anh chỉ nghĩ đi làm cho đỡ
trống thời gian, đỡ buồn. Những
ngày đầu lao động vất vả
anh thấy chán nản muốn bỏ ngang,
nhưng sự động viên chân thành
của người bạn làm anh thấy rất
ngại, hơn nữa sau một ngày làm
việc mệt nhọc, về nhà anh ngủ
rất ngon. Anh thấy như khỏe hẳn ra
và không còn tâm trạng lo lắng
như trước đây nữa. Vốn thông
minh và nhạy bén nên sau một thời
gian anh đã nhảy từ thợ phụ
lên làm thợ chính. Người chủ
thấy anh sáng dạ thông minh nên dần
dần ủy thác cho anh những công việc
quan trọng hơn. Lần đầu tiên
trong đời anh cảm thấy mình có
giá trị khi những người đồng
nghiệp trao đổi với hay hỏi anh về
những công việc hàng ngày. Bạn
bè và gia đình không còn xa lánh
anh như trước đây nữa. Anh thấy
tự tin vào mình hơn.
Lúc đầu, anh hay thắc
mắc, tự hỏi vì sao anh thay đổi
được như vậy. Dần dần anh
đã nhận ra được nguyên do
khiến anh thay đổi. Cuộc đời
anh thay đổi từ ngày hôm đó,
khi mà anh đến Lavang với ý định
của riêng mình. Điều anh dự định
đã không được như ý muốn
của riêng anh. Nhưng món quà anh được
còn lớn hơn điều anh mong đợi.
Anh tự vấn: Giả như không có
ngày hôm ấy thì cuộc đời
anh sẽ ra sao?
Hai năm sau anh trở thành
người Kitô Hữu.
Bây giờ anh đã có một mái
ấm gia đình và anh là người
hoạt động rất tích cực trong
giáo xứ nơi anh ở. Anh thường
nói với mọi người rằng anh được
như ngày hôm nay là do Chúa thương
cứu giúp và phục sinh trong anh, qua bàn
tay dẫn dắt tận tình yêu thương
của Mẹ Hiền Lavang.
Joseph Đỗ