Sa Mạc

Sr. Mary Immaculate, OP


SA MẠC NGHĨA LÀ GÌ? PHẢI CHĂNG SA MẠC LÀ một miền đất hoang vu và cằn cỗi? Hay sa mạc còn mang một ý nghĩa thiêng liêng nào đó? Thật vậy, khi nhìn sa mạc trong khía cạnh Kinh Thánh, chúng ta sẽ nhận thấy nó mang một ý nghĩa thiêng liêng và siêu việt mà Giáo Hội luôn nhắc nhớ và mời gọi chúng ta sống, nhất là trong Mùa Chay Thánh sắp đến với chúng ta. Trong Mùa Chay, Giáo Hội kêu mời mỗi người Kitô hữu sống trong sự tĩnh mịch của sa mạc để nhìn lại quá khứ, củng cố đời sống hiện tại và định hướng cho tương lai. Hay nói cách khác Mùa Chay còn là tiếng gọi trong hoang địa "Hãy sám hối", "hãy trở về cùng Thiên Chúa", "những hố sâu, lấp cho đầy...những núi đồi san cho bằng..." (Mt. 3:2-3).

Khi chúng ta nhìn vào quá trình lịch sử trong thời Cựu Ước, dân Do-Thái đã phải trải qua bốn mươi năm trong sa mạc, phải đói khát, phải chịu thử thách...và trong Tân Ước, Đức Kitô sống suốt bốn mươi ngày chay tịnh trong sa mạc, thì chúng ta sẽ nghĩ gì và sống thế nào trong sa mạc của chính mình? Đó là một thách đố cho mỗi chúng ta. Vì thế, chúng ta phải nhìn lại ý nghĩa sa mạc trong Kinh Thánh để chọn lối sống sa mạc cho riêng mình.

Dân Do-Thái khi xưa đã sống trong cảnh tang thương của kiếp nô lệ tại Ai-Cập, nhưng Giavê đã sai Môsê đến để giải phóng và đưa ra khỏi cảnh lầm than, khốn khổ.... Rồi đưa dân băng qua Biển Sậy để tiến vào sa mạc Sua. Khi chiến mã và kî binh của Pharaon đuổi theo dân Israel, thì con cái Israel kinh hãi, liền lớn tiếng kêu trách Môsê rằng: "Bên Ai-Cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc?...Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai-Cập! Thà làm nô lệ Ai-Cập còn hơn chết trong sa mạc!" (Xh.14:11,12). Họ đi ba ngày đàng mà không tìm ra nước, khi gặp giếng thì nước lại đắng đến nỗi họ đã gọi nơi đó là Mara (nghĩa là cay đắng: Xh.15:22,23). Khi họ khát, Giavê đã tỏ quyền năng hóa nước đắng thành ngọt, rồi cho họ gặp mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là tại Êlim (Xh. 15:27). Rồi từ Êlim họ tiến vào sa mạc Xin, tại nơi đây họ lại than thân trách phận, kêu trách Giavê và ông Môsê vì đã dẫn họ vào sa mạc để phải chịu những cảnh đói dữ dội như vậy (Xh.15:24; 16:3). Lại một lần nữa, Giavê ban Manna và chim cút cho họ ăn thỏa thuê.

Dân Israel rời Xin và đến đóng trại tại Refidim. Ở đây dân chúng lại lâm vào cảnh khát dữ dội nên đã càm ràm với Môsê. Môsê đã làm cho nước vọt lên từ tảng đá và ông đặt tên cho nơi ấy là Masa và Meriba (nghĩa là thử thách và gây sự), vì dân Israel đã gây sự và thử thách xem có thật Thiên Chúa ở cùng họ hay không (Xh.17:1-7). Sau ba tháng rời khỏi Ai-Cập, dân Israel đã đến núi Sinai. Tại đây cuộc hội ngộ giữa Giavê Thiên Chúa và Israel diễn ra; tại đây Thiên Chúa đã lập Giao Ước với dân riêng Người tuyển chọn.

Từ biến cố trong lịch sử, chúng ta rút ra được một bài học cho riêng mình. Dân Do Thái là nô lệ nhưng Giavê đã giải cứu. Chúng ta cũng thế, chúng ta là tội nhân, nô lệ cho tội lỗi, nhưng đã được Thiên Chúa ban Con Một của Người giải thoát chúng ta khỏi cảnh tôi đòi. Ôi, phận con người có là chi mà Chúa thương nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? (Tv. 8:5). Ấy thế, Thiên Chúa đã yêu chúng ta, yêu đến nỗi đã chết cho chúng ta. Đứng trước tình yêu vô biên của Người, thái độ đáp trả của chúng ta ra sao? Tôi thầm nghĩ, thái độ của Dân xưa là hình bóng của thái độ chúng ta hôm nay. Dân Do Thái khi gặp cảnh đói, khát, chiến tranh, chết chóc...thì đâm ra trách móc và nghi ngờ về sự hiện diện của Giavê Thiên Chúa và bất nhẫn với chính mình. Kinh nghiệm này đã nói lên tâm lý chung của con người. Trong cuộc sống thường nhật, cá nhân tôi khi gặp khó khăn, thử thách, đau khổ...phản ứng đầu tiên của tôi chính là nổi nóng, bực bội, càm ràm rằng tại sao lại thế này, thế kia? Đó là thái độ của kẻ thiếu lòng khiêm nhường và niềm tin vào Thiên Chúa. Do đó, kinh nghiệm của dân Do Thái cũng rất có thể xẩy ra cho chúng ta khi bước vào hành trình sa mạc của riêng mình.

Nhưng Thiên Chúa không mời gọi chúng ta sống sa mạc theo kiểu mẫu của dân Do Thái khi xưa, mà ngược lại là phải sống như Đức Kitô. Trong Tân Ước đã xác định Đức Kitô phận là một vị Thiên Chúa đã phải chịu ma quỷ thử thách ở ba điều: "sự tuyệt đối, sự thánh thiện, và sự duy nhất của Thiên Chúa"1 , nhưng Ngài đã chiến thắng thế gian, ma quỷ và xác thịt bằng thái độ chết đi đối với chính mình, chấp nhận thực tại thiếu thốn của bản tính con người, tin tưởng phó thác và thờ lạy chỉ một mình Thiên Chúa2 (Jn.6:15; 18:36). Chặng đường sa mạc của Đức Kitô nhằm thánh hóa ba khuynh hướng tội là khao khát được thỏa mãn xác thịt, thử thách Thiên Chúa, và sùng bái tà thần.

Giữa hai thái độ sống sa mạc, dân Israel thời Cựu Ước hay Đức Kitô trong Tân Ước, chúng ta muốn chọn kiểu mẫu nào?
Mùa Chay luôn là lời mời gọi trở về với Thiên Chúa, với Giáo Hội và với chính mình. Trở về với Thiên Chúa là nhận biết Người là Thiên Chúa toàn năng, uy quyền, nhưng rất mực yêu thương và nhận chân thực con người hèn yếu, tội lỗi của chính mình, hầu sống hài hòa trong tương giao với Giáo Hội và với tha nhân hơn. Vì thế, sa mạc không phải là khổ ải, nhưng là một nơi tràn đầy hứa hẹn yêu thương và hy vọng. Như Thiên Chúa đã ký kết giao ước với dân Israel ở trong sa mạc bằng lề luật của Người, thì hôm nay trong cảnh tĩnh mịch của cõi lòng, Ngài cũng sẽ đính ước với linh hồn ta bằng lời giao ước tình yêu. Giao ước đó là mến yêu Người hết lòng, hết dạ, hết trí khôn, hết sức lực và yêu tha nhân như chính Ngài đã yêu mến chúng ta. Thánh Phaolô đã khẳng định rằng: "yêu thương là chu toàn lề luật" (Rm.13:10), nhưng chúng ta cũng không thể yêu mến Ngài mà không chu toàn lề luật Ngài ban truyền. Do đó, kiên trì sống trong sa mạc là chấp nhận con người của mình trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, là biết đón nhận đau khổ, thử thách và sóng gió trong cuộc sống hằng ngày với lòng mến như Chị Thánh Têrêsa Hài ĐồngGiêsu. Chị thánh đã thốt lên trong những đêm sa mạc của cuộc đời Chị rằng:

"Bình an con chính là Thánh Ý Chúa,
Ôi, Giêsu ân tình duy nhất của lòng con
Đêm như ngày tình yêu là tất cả
Chúa đừng lo con không trách Chúa đâu!"3

Như vậy, chọn sống theo kiểu mẫu sa mạc của Đức Kitô là chúng ta chọn sống yêu thương, sống trong niềm tin và phó thác. Vì "Tình Yêu" là tia sáng trong những chuỗi ngày của sa mạc, là nhựa sống của linh hồn, là mãnh lực thúc bách linh hồn bay xa hơn trên con đường thánh đức và cũng là mục tiêu duy nhất chúng ta phải đạt tới. Bởi lẽ chính "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1Jn. 4:16). Nếu chúng ta sống yêu thương, sống trong Thiên Chúa, thì sa mạc sẽ trở nên miền đất mầu mỡ, nơi sự chết bị hủy diệt để sự sống nẩy sinh, nơi tăm tối có nguồn ánh sáng của Thiên Chúa soi tỏ, nơi mất hết tất cả để được chính Chúa làm gia nghiệp.... Như Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói rằng: "phần tôi phải nhỏ bé đi, để Đức Kitô lớn lên trong tôi" (Jn.3:30). Quả thực trong cảnh tịch liêu của sa mạc, Thiên Chúa luôn hiện diện để mạc khải cho ta biết về Ngài, và qua đó, cho ta biết chính mình và tha nhân.

Để hoàn tất tốt đẹp một hành trình sa mạc, các anh em tiểu đệ ở Spello đã cho ý kiến như sau:
"Ai muốn hoàn tất một hành trình sa mạc đều phải sống những ngày ấy theo gương Đức Kitô, Đấng đã thường rút vào hoang địa để cầu nguyện. Không phải vì cần nghỉ ngơi hay cần ở một mình, xa cách con người, xa cách những sự hiếu động của con người, mà Đức Giêsu mới vào ở trong sa mạc, nhưng đúng hơn chính vì khao khát đối diện với Thiên Chúa Cha của mình để làm người thờ phượng Chúa Cha và cứu độ con người. Chỉ vì khát khao sống thân mật với Chúa mà chúng ta mới bị thôi thúc đi tìm và yêu quý sự cô tịch. Sa mạc đặt con người phải đối diện chính mình, một con người lúc này đã vị tước hết mọi binh khí và đã bị lấy đi hết mọi sức mạnh, khả năng, tập quán, để hiện diện trước mặt Thiên chúa trong sự trần trụi tối đa. Thế nên, khi có những ngày sống trong sa mạc, thì chúng ta phải nỗ lực tìm kiếm sự có mặt của Chúa "nơi chúng ta" và trong những biến cố của cuộc sống. Chúng ta hãy tự nhủ với chính mình rằng sự hiện diện của Chúa nhiều hay ít là tùy ở mình có biết sống những ngày sa mạc đó dưới con mắt của Chúa hay không và có can đảm trong việc bền chí cầu nguyện không. Nếu không có những thái độ căn bản này, không biết cậy trông và saün sàng tiếp nhận các ơn của Chúa, thì hãy nắm chắc rằng các thần xấu sẽ đến quấy rối mình trong những giờ phút cô tịch ấy. Sa mạc sẽ trở nên nơi định cư của ma quỷ. Chỉ cần xem lại Kinh Thánh là sẽ biết rõ mối nguy này. Ngoài ra, trong số hành trang ít ỏi phải luôn có trên hành trình sa mạc là Kinh Thánh, vì trong đó có chứa đựng đủ mọi tấm gương yêu quý sa mạc như Môsê, Êlia, Giôna, Gioan Tẩy Giả, mỗi vị có một phong thái thiêng liêng riêng. Bạn sẽ thấy trong tất cả các mẫu gương ấy và đặc biệt, trong mẫu gương của Đức Giêsu, chay tịnh chiếm một vai trò quan trọng. Đừng quên điều ấy! Trên hành trình sa mạc, có thể chay tịnh là yếu tố tích cực duy nhất, là một cuộc chinh phục thật sự, còn tất cả những việc khác có khi lại rất mơ hồ. Chay tịnh trong hành trình sa mạc là một dấu chứng tỏ chúng ta coi Thiên Chúa là Đấng cao cả nhất.... Ngoài ra, đừng ngại dùng những lời nguyện tắt trước mỗi hành vi trong cuộc sống như các nhà thần hiệp Đông Phương: "Lạy Chúa Giêsu, con là kẻ có tội, xin thương xót con." Sau cùng, hãy nhớ rằng sa mạc chỉ là một chặng đường tạm bợ, nó chỉ là một dấu chỉ nhắc nhớ ta tới một thời gian sa mạc khác, đó là khi Đức Giêsu phó thác linh hồn trong tay Chúa Cha. Ước chi hành trình sa mạc sẽ làm sống dậy nỗi khát khao của bạn là được chết vì Chúa và như Chúa."4

Tóm lại, tâm tình và thái độ chúng ta sẽ chọn trong thời gian ở sa mạc rất quan trọng. Vì nếu chúng ta chọn lui bước để trở về tình trạng nô lệ cho tội lỗi thì chúng ta đâu còn có gì để bàn luận, nhưng nếu chúng ta chọn tiến lên trong tinh thần của Đức Kitô thì sự trọn lành sẽ thuộc về ta. Đây là một thách đố cho mỗi người chúng ta. Chọn hay không chọn là còn tùy thuộc ở tình yêu của mỗi người dành cho Thiên Chúa.


 

1 Một Con Đường Sống, tr. 73
2 Lc. 4:1-13
3 Tinh Thần Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu
4 Một Con Đường Sống, tr. 75-76

Thắp Sáng Niềm Tin, số 43

 

Webmaster:daohb@ev1.net