Hành Hương Quê Mẹ

Đông Khê

Không còn thân nhân nào ở Việt Nam, sau 25 năm, Đông khê mới về quê Mẹ lần thứ nhất vào đầu 2000. Chuyến đi mang tính cách hành hương, với cao ước kính viếng Đức Mẹ Lavang và thăm hỏi, an ủi những người đau khổ.

Vì thiếu kinh nghiệm, Đông Khê không dám nhận tiền quyên góp, sợ làm mất mát mang tiếng. Nhìn vào túi tiền ít ỏi, tuổi cao, cộng thêm nỗi cô đơn và thiếu hiểu biết về tình hình quê nhà, Đông Khê thoáng lo sợ. Gần đến Sài gòn, từ máy bay nhìn xuống, những vùng cỏ dại hoang phế không xa phi trường Tân Sơn Nhất làm Đông Khê bùi ngùi. Ở thành phố này Đông Khê đã mất đứa con gái 17 tuổi, đã trải qua những ngày một mình ôm con chạy loạn.

Chút bùi ngùi làm thức dậy niềm đau thương xưa, Đông Khê nói với Chúa, "Thầy ơi, con tính chỉ xin Thầy cho con làm được những gì Thầy muốn. Con yếu đuối quá, chưa làm chi hết mà đã thổn thức rồi. Xin Thầy biến yếu đuối này thành sức mạnh để giúp con và giúp người khác." Việc đầu tiên đến Sài gòn là Đông Khê đi mua ba cái áo bà ba, ba cái quần đen, một cái mũ và một đôi xang-đan. Son phấn, áo quần Đông Khê nhét hết vào va-li, khóa lại. Đến mỗi nơi, Đông Khê tìm linh mục địa phương, "Thưa cha, ở Mỹ, con là người nghèo. Vì không đủ sức, con sẽ không đến trại cùi, viện mồ côi, không làm chi quan trọng, không chụp hình, quay phim. Xin cha giúp con đến những lối xóm, thăm những vùng quê, gặp những ai khổ đau, đói nghèo thực sự, những người không có tiếng nói, không có tổ chức".

Đông Khê đi một mình từ Nam ra Bắc, mang theo danh sách và lá thư giới thiệu cha cho. Đến mỗi địa phương, Đông Khê ăn ở trong tu viện, và đi với một sơ. Cứ thế, đến địa phận khác, Đông Khê lại xin lá thư khác. Có nơi Đông Khê đi bằng xe hơi thuê, rồi đậu xe ngoài đường lớn, đi bộ vào các nhà. Bùn lầy trơn trợt, phải vịn vào giãy hàng rào cây dọc hai bên đường cho khỏi té. Người hướng dẫn nói, "Gần đến nơi rồi". Nhưng Đông Khê thấy "gần" của họ sao mà xa tít. Có nơi các cha cho sơ mượn xe Honda chở Đông Khê đi. Lần đầu trong đời đi Honda ôm, Đông Khê thú vị, ngửa mặt đón hương trời, tóc tung bay theo làn gió ngược, thấy Chúa gần gũi, thấy lòng mình ấm, thấy đời thật êm ả.

Dọc đường Đông Khê gặp cha Vang dòng Chúa Cứu Thế, từ Hoa Kỳ về phát quà cho nạn nhân bão lụt miền Trung. Cha làm việc rất quy mô, tổ chức cần kiệm nhưng hoàn hảo. Có hai anh chị tháp tùng cha, sốt sắng làm việc bác ái, tâm hồn thật đẹp. Đông Khê theo cha hai lần, chỉ đi xem để học hỏi, không có công trạng gì hết.

Những nét rạng ngời của Giáo Hội khó nghèo và đau khổ

Các sơ làm việc quần quật, từ 4 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Có dòng rất nghèo, có dòng khá hơn chút đỉnh. Có dòng lấy muối pha với nước, chế vào chút nước trà thay cho nước mắm. Đông Khê ăn chung với các sơ, thấy cứ đến 9, 10 giờ đêm là đói bụng vì thiếu chất đạm. Nhưng sau một tuần thì quen.

Ở một nhà dòng kia có 60 người, ĐÔNG KHÊ thấy hai sơ đi chợ mua một miếng thịt bò độ 150 gram (1/3 pound), 3 con cá chim, và một gánh rau. Họ giải thích nếu không phải mùa đông thì có thể hái rau quả ngoài vườn, không phải mua nhiều như thế. Họ dùng thịt cá nấu ăn như chúng ta dùng gia vị, chỉ thấp thoáng sơ sơ. Canh là một nồi nước lớn với một gói "bột canh" và rau. Họ nói, "chỉ cần bột canh là canh ngon". Thế vậy mà tinh thần phục vụ của các sơ rất cao. Một Giám mục nói với ĐÔNG KHÊ, "chánh quyền thay đổi cái nhìn về Công Giáo là nhờ các sơ làm việc xã hội nhiều."

"Thiên Chúa là tình yêu. Ai yêu thương thì ở trong Ngài" (1 Gioan 4:16).

Cứ hai sơ đi một chiếc xe đạp, thay nhau đẩy xe mỗi khi lên dốc. Họ đến thăm người bị bệnh Aids và bệnh ho lao. Phần lớn các bệnh nhân này ở nhà, và chỉ đến bệnh viện lãnh thuốc. Các sơ cho hay hầu như tất cả các bệnh nhân bệnh AIDS đều chịu rửa tội, trừ một số người mới đau.

Đông Khê có theo một sơ tới thăm 2 bệnh nhân. Ngồi một góc quan sát, Đông Khê thấy họ nhìn sơ như hiện thân của Đức Kitô. Lòng tận tâm của các sơ giúp họ phấn đấu với bệnh tật. Một người nước mắt chảy ròng, đã nói, "không có Dì, con đã chết lâu. Con sẽ xin rửa tội để linh hồn mát mẻ". Lòng Đông Khê dâng lên niềm cảm phục và thương yêu chan chứa cả hai người. Thật là một bức tranh đẹp tuyệt vời. Một người trong căn nhà ọp ẹp, với manh chiếu xô lệch, trên chiếc chõng tre kêu răng rắc mỗi khi bệnh nhân trở mình đón nhận tình thương Phúc Âm trong chân tình mộc mạc, ý thức trọn vẹn thân phận làm người mong manh của mình. Và một người, ăn thiếu, gầy xanh, cúi xuống giường bệnh nhân với gương mặt Đức Kitô, con tim Đức Kitô. Trong con người sức vóc yếu đuối, trí thức không cao lắm của vị nữ tu này, là một niềm tin son sắt, ý chí hùng dũng, hành động vị tha và quả cảm, và nhất là tấm lòng bác ái bao la. Ai dám bảo trần gian không đẹp và Giáo Hội rối ren.

Người bệnh thứ hai bị ho lao, và cũng ngõ ý muốn được rửa tội "để được ấm cúng". Chúa đang trao tặng món quà đức tin cho cả hai người. Nhưng ở mỗi người, món quà đó có tác động khác nhau. Với tâm hồn cô đơn, lạnh vắng, đức tin ban sự ấm áp. Khi con người ngột ngạt với bản án tử hình của căn bệnh hiểm nghèo, thì đức tin mang lại sự nâng đỡ dịu dàng êm ái của tình yêu Thiên Chúa. Rõ ràng lòng nhân hậu Chúa có mặt khắp nơi, trông thấy từng ngõ ngách của mỗi tâm hồn.

"Hãy sống không tì vết giữa ngang trái để các con chiếu rạng như đuốc sáng" (Phil 2:15).

Miền thượng du Bắc Việt rừng núi hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Đông Khê đến Cao Bằng, Lạng Sơn, thấy nét hùng vĩ của giang sơn: đèo cao dốc ngược, gió rừng lạnh buốt. Những con đường đất đỏ ngoằn nghèo bọc quanh triền núi, mà những ngày lộng gió, bụi mờ cả đường đi. Đây là nơi các chính quyền ngày xưa gởi tù nhân tội nặng đến để đền tội, gọi là đi đày. Đã có bao nhiêu Linh Mục, tu sĩ, trên con đường truyền giáo, bỏ mạng nơi khỉ ho gà gáy này.

Đức Cha Ngô Quang Kiệt mới nhậm chức Giám Mục ở đây từ tháng 6 năm 1999, thừa kế Đức Cha Phạm Văn Dụ, người được tấn phong Giám Mục từ năm 1960, nhưng chỉ được nhìn nhận kể từ năm 1991. Ngay sau đó Đức Cha Dụ được đưa về cư trú tại Thất Khê, một giáo xứ nhỏ ở vùng quê Lạng Sơn, cách toà Giám Mục 12 cây số. Tất cả giang sơn của Ngài là ngôi nhà thờ xiêu vẹo, nhỏ bé, nền đất, bàn ghế lỏng chỏng, muỗi lượn vo ve; và căn nhà Ngài ở thì cũ rích, tối om, cửa ngỏ đơn sơ đón gió lùa vào suốt mùa đông. Những viên gạch lâu đời đã long ra, saün sàng rơi xuống bất cứ lúc nào.

Trong 31 năm - gần một đời người - với hoàn cảnh phức tạp và khó khăn, không đi xa quá cái "giang sơn nhỏ be,ù" Đông Khê thắc mắc muốn biết Đức Cha Dụ Ngài làm thế nào để rao giảng Tin Mừng? Đông Khê đã tìm được câu trả lời khi ngủ qua đêm trong căn nhà mà Đức Cha đã sống, và dự Thánh Lễ ở ngôi Thánh Đường đã chứng kiến hơn ba mươi năm Thánh Giá của Ngài. Đức Cha Kiệt dâng lễ, đầu cúi xuống rất thấp, và giảng với tình thương Thiên Chúa đi sâu vào lòng người.

Tối hôm đó, Đông Khê ngồi nghe giáo dân kể lại đời sống của Đức Cha cố. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn mờ, Đông Khê không nói được lời nào, chỉ nhìn những giọt nước mắt lăn trên má họ với tấm lòng kính trọng và thương cảm. Đức Cha có thói quen dậy sớm, ngồi im lặng cả giờ, trước khi dâng Thánh Lễ, Ngài dặn ông từ, "Đó là giờ Cha dâng cho Chúa, con đừng khuấy động Cha". Đức Cha cũng ngồi hằng giờ trong Thánh đường, nói chuyện với Chúa.

Những người được ơn phúc sống gần Đức Cha Dụ chia cho Đông Khê gia tài mà họ trân quí: một bài hát viết tay, trên tờ giấy vàng khè. Đức Cha quá cố có tài về nhạc và thơ. Ngài dạy cho trẻ con những bài hát, bài văn vần, đề cao tình yêu Thiên Chúa, đường lối nên Thánh, khuyến khích tinh thần sốt sắng trong đời sống thường nhật. Những bài này đã trở thành Kinh Nhật Tụng đọc trong các nhà thờ hiện nay.

Năm 1991, khi được chính thức nhìn nhận là Giám Mục Lạng Sơn, Đức Cha Phạm Văn Dụ công khai thi hành nhiệm vụ chủ chiên được bảy năm thì từ trần vào tháng 9 năm 1998. Sau khi Ngài qua đời, người ta nhận thấy tinh thần đạo đức giáo xứ Thất Khê rất cao, ơn gọi tu trì nhiều nhất trong vùng. Giáo xứ có qui củ nề nếp.

Những tâm hồn tốt đẹp nơi rừng sâu

"Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó" (Mt 5:3)

Một sơ chở Đồng Khê đi Honda thăm viếng những dân cư nghèo miền Thượng Du đất Bắc. Dọc đường sơ nói, "Chị ôm em cho chặt, em lên dốc". Dốc cao, chiếc xe làm việc hết sức mình. Lên dốc rồi sơ lại nói, "Chị ôm em cho chặt, em xuống dốc". Chiếc Honda lao đi. Sơ chỉ ngọn đồi phía bên kia rừng, đầy những con đường cong queo cao thấp chằng chịt: "Hồi nãy chị em mình đi bên ấy đấy". Đông Khê nhìn mà khiếp sợ.

Rồi sơ lại kêu, "Xuống đây đi, hết đường chạy xe rồi, mình đi đường đê". Chiếc Honda được khóa lại, để giữa rừng. Một hồi sau, sơ lại nói, "hết đường đê rồi, mình đi đường ruộng". Đông Khê đang mải mê ngắm những thửa ruộng khoai tây xanh um thì sơ kéo tay, "Chị ơi, mình lội suối". Trái với sự hăng say suốt buổi, bây giờ Đông Khê nhìn dòng nước ngại ngùng vì sợ đỉa! Đông Khê kêu Chúa, "Thầy ơi, con sợ đỉa lắm, con mà thấy đỉa là con chạy lẹ". Đông Khê đang chăm chú lội suối, ngẩng đầu lên, thấy năm con trâu nối đuôi nhau đi đủng đỉnh trên đường đê nhỏ, Đông Khê lại kêu Chúa: "xin Thầy cho Thiên Thần dẫn trâu đi chỗ khác, nó húc tụi con, chắc tụi con chết giữa rừng này". Như vị hiền triết coi đời là gió thoảng mây bay, trâu từ tốn nhẹ nhàng ve vẩy đuôi, lững thững bước xuống ruộng. Có một đoạn Đông Khê phải đi bè. Chiếc bè làm bằng sáu cây tre to kết lại.

Phần lớn dân cư ở đây là người Tày và Nùng. Họ nói sõi tiếng Kinh, nhưng giữa họ với nhau thì họ dùng thổ ngữ, nghe líu lo như chim hót. Họ mặc áo dài kiểu như áo đầm, có viền trắng như "dentelle", và mặc quần hay quấn xà-rông. Họ rất dễ thương, hiền lành, đơn sơ như thiên thần. Phải nói là họ nhân đức, thật thà, đến mức độ nhiều khi bị người Kinh bắt nạt. Họ chỉ có hai danh từ khi xưng hô: anh và chị. Đông Khê nhìn vẻ mặt hiền hòa, vô tư, chất phát, thanh thản, không có nét cau giữa đôi lông mày của họ và tự hỏi người dân thượng du nghèo khổ này và người sống ở các đô thị lớn của thế giới, ai sung sướng hơn ai?

Họ nghèo lắm, nhưng rất hiếu khách. Họ mời Đông Khê thưởng thức quà Tết và uống rượu. Nhà nào cũng có rượu. Rượu nấu trong bếp, như nấu cháo, nấu xôi. Tục lệ của họ là ăn hay uống đều chung chạ, và chuyền cho nhau, để lấy hên năm mới. Nhìn đồ ăn, Đông Khê thoáng nghĩ đến tên các căn bệnh miền nhiệt đới, thế nhưng vẫn chiều theo và ăn uống như họ.

Đang lúc đó, một bà bên kia hàng rào gọi, "Chị ơi, qua ăn, cơm nấu chín rồi". Nhìn gian nhà dột nát, chắp nối, vá víu của bà, và những mảnh ruộng quanh nhà, rộng bằng hai chiếc chiếu, Đông Khê vừa ái ngại, vừa cảm động. Đối với họ, cao điểm của sự tiếp đón, là ăn cơm. Bữa cơm đối với họ rất quan trọng vì nó biểu lộ tình thân thương và lòng quý mến. Họ sinh sống bằng cách kiếm củi trong rừng, gánh ra chợ cách đó 12 cây số, bán mỗi gánh 5000 đồng tiền Việt (35 xu tiền Mỹ). Một tuần mới có một phiên chợ. Những ngày không có chợ, họ canh tác miếng đất nhỏ quanh nhà. Vất vả thế mà họ vẫn giữ lòng tin, sống ngay lành hồn nhiên.

Đứa bé trong gốc tre

"Hãy xem chim trời. Đấng ở trên trời nuôi nấng chúng. Các con không hơn chúng sao?" (Mt 6:26)

Cạnh gian nhà tranh lụp xụp, Đông Khê thấy một đứa bé độ ba tháng, nằm trong gốc tre. Chắc gốc tre này đã được dùng từ lâu và nhiều lần vì là tre khô, màu vàng, láng bóng được xây tròn như chiếc nôi. Có một bé gái đứng đó, năm nay được chín tuổi nhưng nhỏ bé như năm, sáu tuổi. Nó có phận sự nấu bếp, nên nó đặt em bé ở gốc tre để trông em cho gần. "Bếp" là ba viên gạch châu vào nhau cạnh gốc tre. Trên bếp là chiếc nồi đen thui có quai, đang nấu cháo đặc.

Đông Khê hỏi, "Em còn bé, sao con nấu cháo đặc thế, làm sao em ăn?"
Cô bé đáp, "đâu có, em ăn nước cháo mà, con chắt ra kia kìa. Đây là cháo cả nhà ăn đấy chứ!"
Mẹ con đâu rồi?
Mẹ ra đồng tưới nước phân.

Rồi em ra góc vườn, cúi gập người, "Mẹ ơi, có bà nào ý!" Một hồi sau, người đàn bà bước vào. Bà mỉm cười. Trên gương mặt xương xẩu, gầy gò của bà, người ta chỉ thấy cả răng là răng vì bà gầy quá, hàm răng trở thành nét chính trên mặt. Thật tội! Thêm vào đó, cả gian nhà bỗng sặc sụa mùi phân người.

Đông Khê nói Đông Khê từ miền trong ra, nhân tiện ngày Tết, đến thăm các anh chị và mừng tuổi các cháu. Bà nghẹn ngào ôm lấy Đông Khê, vuốt tóc, nâng mặt Đông Khê trong hai bàn tay gầy guộc của bà. Nhìn đôi tay run run, Đông Khê cảm động. Chiều về, Đông Khê tắm rất kỹ, đến nỗi một sơ hỏi: "Chị tắm gì mà lâu thế?!"

Khu này không có trường, tất cả trẻ con đều thất học. Đường xóm nào cũng có trẻ con chơi loanh quanh. Người thanh niên thông thái nhất vùng có trình độ lớp 12. Có những em bỏ dở chương trình học vì phải đi bộ rất xa, 20 cây số mới có trường. Ngoài ra, một bệnh viện nhỏ, trang bị thô sơ cũng ở cách xa 20 cây số. Dân chúng dùng lá rừng tự điều trị các bệnh.

Đền Mẹ La Vang

Tội nghiệp Mẹ, quê hương nghèo khó. Tượng Mẹ trên bậc cao, gió lộng bốn bề. Trời mưa lâm râm nhưng những người hành hương dường như không cần biết đến thời tiết. Họ thản nhiên qùi trên chiếu ướt sũng, mắt đăm chiêu nhìn lên Mẹ. Đông Khê đã viếng Lộ Đức, Fatima. Mẹ ở đâu cũng là Mẹ. Nhưng ở đây, lòng Đông Khê nao nao nhớ đến công ơn Mẹ cứu dân Việt tại nơi này, công ơn bao người đã nằm xuống, nghĩ đến hồn thiêng dân tộc.

"Ai tin ta sẽ không bao giờ chết" (Gn 11:26)

Ở Sài-Gòn, Đông Khê có đến nơi hưu dưỡng thăm các cha và các sơ. Đông Khê gặp một sơ 80 tuổi, đau ung thư, bác sĩ cho biết sắp chết vì bệnh đã lan tràn nhiều bộ phận, không còn chữa trị được. Biết mình có thể chết bất cứ lúc nào, sơ đi gõ từng cửa phòng, tươi cười từ giã.

Dù đã có kinh nghiệm với bệnh nhân ung thư trong thời gian săn sóc một người bạn, sơ làm Đông Khê ngạc nhiên rất nhiều. Sơ gầy ốm, yếu sức, nhưng đủ can đảm và tháo vát để tự săn sóc lấy mình. Sơ rất sạch sẽ, gọn sàng, tươm tất. Sơ có đôi môi mỏng, màu hồng nhạt. Sơ kể với Đông Khê căn bệnh của mình, vừa nói vừa cười, nét cười nhẹ nhàng, giọng nói êm dịu, bình thản. Sơ kết luận, "Em sắp về với Chúa rồi. Chỉ còn chờ ngày giờ mà thôi. Em biết Ngài đang đợi em, và em vui lắm. Nhân tiện hôm nay gặp chị đây, em chào chị. Em cầu nguyện cho chị". Đông Khê nhìn đôi môi hồng nhạt, chưa bao giờ Đông Khê thấy nụ cười nào đẹp như thế, kể cả ở những nhan sắc tươi trẻ. Có một cái gì sáng láng trên gương mặt sơ già, trên làn môi; một nét vừa sâu kín, vừa rực rỡ. Đông Khê cố nén thổn thức, cúi đầu nói với Chúa, "Lạy Thầy, Thần Khí Thầy ở đây". Toàn thân sơ tỏa ra một thanh thoát êm dịu, cao sang vời vợi. Sơ giang tay ra và Đông Khê ngã đầu vào vai sơ, tiếng khóc ào vỡ... Sơ nhẹ nhàng lau nước mắt cho Đông Khê, âu yếm như mẹ với con, miệng vẫn giữ nụ cười.

Mặc dầu bận rộn, không một lúc nào Đông Khê quên được sơ. Cứ thế, Đông Khê mang hình ảnh bà sơ già theo về Mỹ. Đông Khê ngừng lại ở phi trường Los Angeles để đổi máy bay. Trời mưa, Đông Khê đứng thu mình bên cửa kính nhìn làn mưa mong manh, chập chờn lung lay trước gió, trông như giải khăn tang không người mang, bay bay giữa bầu trời khoáng đạt mênh mộng. Dưới làn mưa dần dần nặng hạt, hình ảnh bà sơ già với bộ áo dòng trắng xóa, nằm trong quan tài, hiện ra như lời vĩnh biệt. Đẹp quá! Thương quá! Thầy ơi!

Cám ơn Chúa đã đặt một vị Thánh trên đường con đi. Cám ơn Chúa đã cho con được dịp học những bài học Phúc Âm trong chuyến đi này. Quả thật, những mầu nhiệm của Chúa luôn bất ngờ, sâu kín, chen một chút đau khổ, nhưng sau cùng, vẫn mang hương vị của hạnh phúc vì có bóng dáng Thầy.

Đông Khê có địa chỉ, nhưng không muốn biết bà sơ đã chết chưa vì Đông Khê nghĩ điều bà muốn truyền đạt là sống hay chết không có gì quan trọng, quan trọng là mình có Chúa hay không mà thôi. Đông Khê cũng tin bà không chết, nhưng sống miên viễn với Chúa, ướp trong Tình Yêu của Ngài. Amen!


Thắp Sáng Niềm Tin, số 42 & 43..

Webmaster:daohb@ev1.net